Hoangsa Paracel: Một câu chuyện rất cảm động, đầy tình người và tình quê hương của một sĩ quan Hải Quân đi du học Mỹ đã bị sống lưu vong sau ngày 30/4/1975.  Anh đã nói lên tâm trạng tiêu biểu cho một lớp quân nhân QLVNCH không bao giờ khuất phục bạo quyền cộng sản.

CHƯƠNG 1: MƯỜI ĐÊM NGÀ NGỌC – NĂM NĂM TRÂN QUÝ

Đời người ai cũng có một thời gian mà chúng ta nhớ mãi. Có người sẽ không quên được một quá khứ nếu quá khứ ấy có quá nhiều đau khổ và mất mát. Có người sẽ nhớ mãi về những ngày tháng cũ hoặc một thành phố đã mang lại nhiều kỷ niệm vui hoặc buồn. Có người nhớ mãi mật ngọt của mối tình đầu mà cho dù bao năm qua vẫn không quên. Nhà văn Mai Thảo có một truyện ngắn với nhan đề Mười Đêm Ngà Ngọc để kể về một tình yêu của hai người đã có gia đình
. . Chàng, với vợ con. Nàng, với người chồng hay vắng nhà – thương, mà không yêu, sống với nhau vì nghĩa hơn là vì tình.. . Họ gặp nhau tình cờ, vài lần. . Sau đó, chàng dẫn con lên Đà Lạt nghỉ mát. . Nàng cũng lên đó thăm chồng bị tai nạn. . Định mệnh đưa họ đến gần nhau. . Và đến tình yêu. . Một tình yêu mà luân lý và đạo đức thông thường của xã hội không chấp nhận. Nhưng cả hai đều chợt nhận ra họ đã tìm hơn nửa đời bây giờ mới gặp tình yêu đích thực và hiểu thế nào là yêu thực sự. Họ ngã vào vòng tay nhau để yêu như chưa bao giờ yêu, bỏ mặc những ràng buộc về bổn phận và trách nhiệm. Thời gian thật ngắn ngủi. Chỉ mười đêm nhưng đó là tình yêu của cả một đời người. Và đấy là Mười Đêm Ngà Ngọc. Cả hai người đã tìm được The Other Half.

Nếu Mai Thảo có Mười Đêm Ngà Ngọc thì tôi có Năm Năm Trân Quý. Đối với tôi thì năm năm trời sống trong quân ngũ phục vụ Hải Quân Việt Nam là những ngày tháng đẹp nhất mà tôi sẽ trân quý thời gian này suốt đời. Gia nhập quân đội để phục vụ tổ quốc làm nhiệm vụ của trai thời loạn. Vào Hải Quân để thực hiện mộng hải hồ phiêu du đây đó cho phỉ chí tang bồng. Tôi đã gặp những người bạn cùng chí hướng cùng nhau nhập học khóa 23 SQHQ Nha Trang và đã có biết bao nhiêu là kỷ niệm từ ngày đầu tiên vào trại Bach Đằng II, học căn bản quân sự ở Quang Trung. Kế đến là những ngày thực tập trên HQ500 trước khi ra Nha Trang.

Lên tàu được sĩ quan đàn anh khóa 20 dạy dỗ thật chu đáo biết thế nào là chạy rùa, gõ sét, sơn nhôm và những hình phạt giáo đầu của quân trường Nha Trang như chông Koon, móc giò, thăng thổ. Sau khi tốt nghiệp được gởi đi thực tập trên US 7th Fleet cùng Trịnh Hòe với những bến cảng xa lạ của Đông Nam Á và gặp gỡ những người con gái đẹp như tiên xinh như ngọc. Rồi những ngày đi biển trên HQ612 đã cho tôi thấy nhiều nét đẹp của quê hương trong những chuyến công tác tuần dương trên khắp miền duyên hải. Tiếp nối là thời gian học Anh Ngữ ở trường Sinh Ngữ Quân Đội với ca sĩ mignon Thanh Mai qua nhanh đến ngày đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ vào tháng 2-1975. Sau vài tháng tu nghiệp đến ngày đinh mệnh 30-4 đứt gánh nửa đường. Khoảng thời gian ngắn ngủi chỉ có 5 năm nhưng đó là thời gian đẹp nhất đời mà tôi sẽ không bao giờ quên. Đó là Năm Năm Trân Quý.Những hình ảnh cũ đã làm tôi nhớ về một khoảng thời gian tuyệt đẹp xảy ra gần nửa thế kỷ. Một thời gian thật dài. Năm mươi năm. Đời ta có được mấy lần năm mươi năm? Chỉ một lần. Bời vậy tôi muốn viết lại những giòng hồi ký của thời gian này khi còn nhớ được thứ tự trước sau. Để năm mười năm sau khi trí đã mòn, tim đã mỏi thì tôi vẫn có thể mở ra để đọc lại, nhớ về một thời đã qua mà chúng ta đã một lần có với nhau một thời gian thật đẹp và hào hùng.

Phần đầu của thiên hồi ký sẽ kể về hai năm đầu ở trên đất Mỹ. Sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản, tôi và những quân nhân tu nghiệp ở Hoa Kỳ như một con thuyền đang trôi giữa giòng nước bỗng bị mất tay lái, dập dìu trên sóng không định hướng bơ vơ trên đất khách quê người. Nhưng cuối cùng chúng tôi cũng cố phấn đấu để vượt qua những trở ngại và sống còn vì Chỉ Có Tinh Thần Là Quan Trọng.

CHƯƠNG 2: TÁM TUẦN LỄ – HAI KHÓA HỌC

Đã bao năm qua nhưng tôi vẫn nhớ về một mùa xuân năm 1975, mùa xuân đầu tiên trên đất Mỹ. Với tôi thì hai năm đầu tiên 1975 và 1976 mang nhiều nét đậm trong tiềm thức mà mãi bây giờ tôi vẫn còn nhớ được nhiều chi tiết.

Sau khi đi thực tập Đệ Thất Hạm Đội về, tôi được lệnh trình diện HQ612, Tuần Duyên Hạm Thái Bình. Sau hơn hai năm hải hành từ Vùng 1 đến vùng 4 Duyên Hải dạn dày trong sóng gió đại dương, tôi về Sàigòn để học Anh Ngữ bổ túc ở Trường Sinh Ngữ Quân Đội trong lúc chờ đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ. Khi đến trình diện Phòng Quân Huấn ở BTL/HQ, tôi gặp thêm 3 sĩ quan 23 nữa là Nguyễn Văn Kỳ, Lê Đinh Đức và Lý Văn Năm. Thế là bốn Đệ Nhị Bảo Bình, 2 Cơ Khí, 2 Chỉ Huy hop khóa hàng ngày vui như tết.